III. Bài Từ Phó Chúc
Nguyên văn:
祥雲寺住持號淨眼爲付囑詞
窃念、寔際裏而一塵不受、寂默無爲、行門中而衆善同歸、傳持有在。所以從上諸祖、付受得人佛法于是隆矣。衲自承本師付囑紹法派之門庭、顧思祖道深玄少酬未遂、毎念佛恩鴻大、願報應難。兹者本師旣徃於淨邦、衲又偶嬰于重症、大抵如此、謂之何哉。噫、此身無常、就有眞常之道、覺塵拜寔、須從眞寔之門、年花叢席已無心、旦暮蓮邦常在、念察得本寺法弟淨行、正信出家、堅持戒律、輙此合付繼爲本寺住持、嗣述前修廣度後學、恭祈官山大德宗派兩門、運慧智闡衍道源、興願力助成佛化、尤願貴戚禪流、宰官法派、同心歡喜、安意護持、使佛日輝而祖印重光、法輪轉而宗風永振。衲得棲心靜慮、覓向樂邦、這條路幸見阿彌陀佛、速證菩提、與師倶生、行願足矣。是爲付。
Phiên âm:
TƯỜNG VÂN TỰ1 TRÚ TRÌ HIỆU TỊNH NHÃN2 VI PHÓ CHÚC TỪ
Thiết niệm: Thật tế lí nhi nhất trần bất thọ, tịch mặc vô vi; hạnh môn trung nhi chúng thiện đồng quy, truyền trì hữu tại; sở dĩ tùng thượng chư Tổ, phó thọ đắc nhân Phật pháp vu thị long hỉ. Nạp tự thừa Bổn Sư phó chúc thiệu Pháp phái chi môn đình, cố tư Tổ đạo thâm huyền thiểu thù vị toại, mỗi niệm Phật ân hồng đại, nguyện báo ứng nan. Tư giả Bổn Sư kí vãng ư Tịnh Bang,3 nạp hựu ngẫu anh vu trọng chứng, đại để như thử, vị chi hà tai. Y ! Thử thân vô thường, tựu hữu chơn thường chi đạo; giác trần bái thật, tu tùng chơn thật chi môn; niên hoa tùng tịch dĩ vô tâm, đán mộ Liên Bang4thường tại. Niệm sát đắc bổn tự pháp đệ Tịnh Hạnh,5 chánh tín xuất gia, kiên trì giới luật, triếp thử hợp phó kế vi bổn tự Trú Trì, tự thuật tiền tu quảng độ hậu học. Cung kỳ quan sơn Đại Đức6 Tông7phái lưỡng môn, vận huệ trí xiển diễn đạo nguyên, hưng nguyện lực trợ thành Phật hóa, vưu nguyện quý thích Thiền lưu,8 Tể quan9 pháp phái, đồng tâm hoan hỷ, an ý hộ trì, sử Phật nhật10 huy nhi Tổ ấn11 trùng quang, Pháp Luân12 chuyển nhi Tông phong13 vĩnh chấn. Nạp đắc thê tâm tĩnh lự, mịch hướng Lạc Bang,14 giá điều lộ hạnh kiến A Di Đà Phật, tốc chứng Bồ Đề, dữ sư câu sanh, hạnh nguyện túc hĩ ! Thị vi phó.
Dịch nghĩa:
BÀI TỪ PHÓ CHÚC CỦA HÒA THƯỢNG TRÚ TRÌ
CHÙA TƯỜNG VÂN HIỆU TỊNH NHÃN
Thiết nghĩ: Trong thật tế mà một bụi trần chẳng nhận, vắng lặng vô vi; trong cửa hạnh nguyện mà các điều thiện đều quay về, truyền giữ còn đó. Sở dĩ từ trên chư Tổ, giao phó đúng người, nhờ vậy Phật pháp mới hưng thịnh. Bần tăng từ khi được Bổn Sư trao truyền dặn dò nối tiếp môn phong của Pháp phái; nghĩ lại Tổ đạo thật sâu mầu, chút đáp đền vẫn chưa toại nguyện; cứ mỗi lần nhớ đến ơn Phật rộng lớn, nguyện báo ứng thật khó. Hôm nay Bổn Sư đã về Cực Lạc, bần tăng lại gặp phải chứng bệnh nặng, đại để như vậy, thật khó nói thay ! Ôi ! Thân nầy vô thường, vẫn có chơn thường lẽ Đạo; biết trần huyễn bái chân thật, nên từ cửa chân thật mà vào; tháng ngày tu niệm vốn vô tâm, sáng tối Cõi Sen hiện hữu. Xét thấy rằng pháp đệ Tịnh Hạnh ở bổn tự, là người chánh tín xuất gia, hành trì giới luật; nên phù hợp để giao phó kế thừa chức Trú Trì bổn tự, nối tiếp đức tu của chư vị đi trước và tiếp độ chúng học đồ đến sau. Cúi mong chư vị quan sơn Đại Đức của hai Tông phái, vận trí tuệ mở bày nguồn đạo, dấy nguyện lực giúp thành Phật quả; lại xin quý vị tu sĩ, quan lại trong Pháp phái, đồng tâm hoan hỷ, vui vẻ hộ trì, khiến Trời Phật sáng mà Tổ ấn quang minh, xe Pháp chuyển mà Tông phong mãi chấn. Bần tăng an tâm tĩnh lặng, tìm hướng Lạc Bang; trên con đường ấy may gặp đức Phật A Di Đà, mau chứng Bồ Đề, cùng Thầy vãng sanh, hạnh nguyện tròn đầy vậy ! Nay giao phó !
Chú thích:
- Chùa Tường Vân (祥雲寺): chùa tọa lạc trên vùng đồi núi làng Dương Xuân Thượng, thuộc xã Thủy Xuân, Thành Phố Huế, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Địa điểm này tuy đã có từ trước, nhưng thực sự có Chùa Tường Vân ở đây chỉ kể từ năm 1869 (Kỷ Tỵ, Tự Đức [嗣德] thứ 22) đến nay. Nguyên khoảng năm 1860 (Canh Thân, Tự Đức thứ 13), Thiền Sư Huệ Cảnh có dựng một thảo am, lấy tên là Tường Vân ở gần Chùa Từ Hiếu. Đến năm 1869, Thiền Sư Linh Cơ bèn dời thảo am về hợp nhất với Chùa Từ Quang thành lập Chùa Tường Vân tại vị trí hiện nay. Còn vị trí cũ thì nhường lại cho Tùng Thiện Vương (松善王, 1819-1870) để xây lăng mộ. Năm 1869, chùa được ban biển Sắc Tứ Tường Vân Tự. Năm 1891 (Tân Mão, Thành Thái [成泰] thứ 3), chùa được trùng tu lần thứ nhất. Đến năm 1904 (Giáp Thìn, Thành Thái 16), thì trùng tu lần nữa. Hòa Thượng Tăng Thống Thích Tịnh Khiết đại trùng tu năm 1972 (Nhâm Tý) và Hòa Thượng Thích Minh Châu trùng tu năm 1992 (Nhâm Thân). Ngôi Chùa Tường Vân hiện nay có một tiền đường và một đại điện kiến trúc theo kiểu trùng thiềm nhưng có cải cách. Trong chánh điện, cách thờ tự cũng giản dị. Trước thờ tượng Phật A Di Đà; hàng sau cao hơn, thờ tượng Tam Thế, Địa Tạng Vương được thờ bên phải; Chuẩn Đề nhiều tay được thờ bên trái. Phía Hậu Tổ chia làm ba án: án giữa thờ ngài Tánh Hoạt Huệ Cảnh và ngài Hải Toàn Linh Cơ; án bên phải chính giữa thờ ngài Thanh Thái, hai bên thờ ngài Tịnh Hạnh và ngài Tịnh Khiết; án bên trái thì chính giữa thờ ngài Tịnh Nhãn, hai bên thờ ngài Viên Quang và ngài Chánh Pháp. Toàn bộ hệ thống kiến trúc chùa theo hình chữ khẩu (口). Hậu đường thờ chư linh. Bên phải là Tăng xá, gian chính giữa có thiết hương án chạm trổ mỹ thuật nghiêm trang để thờ Đức Tăng Thống Thích Tịnh Khiết. Hiện nay, Chùa Tường Vân là một ngôi danh lam rất trang nghiêm bề thế giữa chốn kinh kỳ, và là một trong những ngôi Tổ Đình lớn của Giáo Hội Phật Giáo Thừa Thiên-Huế. (Theo nguồn phongtho.net. Võ Văn Tường: 500 Danh Lam Việt Nam. Nhà Xuất Bản Thông Tấn, 2008, tr. 169)
- Về tiểu sử của Hòa Thượng Tịnh Nhãn, hiện tại không có tài liệu nào đề cập đến, cho nên cũng không rõ năm sinh và năm mất của Hòa Thượng; tuy nhiên, trong bộ Hàm Long Sơn Chí (含龍山志, ghi năm Kỷ Hợi [1899, Thành Thái 11]) quyển 1, phần Tường Vân Tự Tôn Chứng A Xà Lê Pháp Từ (祥雲寺尊證阿闍梨法嗣), có nêu ra 4 vị pháp từ của Hòa Thượng Tôn Chứng Chùa Tường Vân Thanh Thái Phước Chỉ (清泰福祉, 1858-1921), theo thứ tự là (1) Đại Sư Trừng Thanh (澄清), tự Hiền Lương (賢良), hiệu Tịnh Nhãn (淨眼); (2) Đại Sư Trừng Thiệm (澄贍), tự Phổ Tế (普濟), hiệu Tịnh Tạng (淨藏); (3) Đại Sư Trừng Diên (澄延), tự Cáo Tạ (告謝), hiệu Tịnh Viên (淨圓); (4) Đại Sư Trừng Thái (澄泰), tự Quang Thư (光舒), hiệu Tịnh Hương (淨香). Thư tịch nầy còn ghi lại bài kệ phó chúc cho Đại Sư Tịnh Nhãn như sau: “Trừng Thanh châu hiện ấn tâm tiên, phó nhữ Hiền Lương pháp tánh kiên, dịch diệp tương thừa minh Tổ ấn, pháp đăng truyền điểm quảng vô biên (澄清珠現印心先、付汝賢良法性堅、奕葉相承明祖印、法燈傳點廣無邊, Trừng Thanh [lắng trong] báu hiện ấn tâm liền, trao ngươi Hiền Lương pháp tánh kiên, nối tiếp kế thừa ngời Tổ ấn, đèn pháp truyền tỏ rộng vô biên).” Và trong phần Tường Vân Tự Sự Lục (祥雲寺事錄) của tác phẩm trên có ghi rõ chi tiết năm phó chúc bài kệ nầy với đoạn: “Thành Thái cửu niên Đinh Dậu, Tôn Chứng Sư phó pháp đệ tử Trừng Thanh vi Tịnh Nhãn Đại Sư (成泰九年丁酉、尊證師付法弟子澄清淨眼大師, năm Đinh Dậu, Thành Thái thứ 9 [1897], vị thầy Tôn Chứng truyền pháp cho đệ tử Trừng Thanh là Đại Sư Tịnh Nhãn.” Như vậy, qua thông tin nầy chúng ta biết rằng Đại Sư là đệ tử đầu của Hòa Thượng Thanh Thái Phước Chỉ. Ngài có pháp danh là Trừng Thanh, tự Hiền Lương và hiệu là Tịnh Nhãn. Hơn nữa, tại lòng văn bia tháp của Ngài cho biết thêm rằng: “Tự Lâm Tế Pháp Phái đệ tứ thập nhị thế Tường Vân Tự Trú Trì húy Trừng Thanh hiệu Tịnh Nhãn Đại Sư chi tháp (嗣臨濟法派第四十二世祥雲寺住持諱澄清號淨眼大師之塔, tháp của Đại Sư hiệu Tịnh Nhãn, húy Trừng Thanh, Trú Trì Chùa Tường Vân, nối tiếp Pháp Phái Lâm Tế đời thứ bốn mươi hai).” Bên phải văn bia nầy có ghi dòng chữ về năm dựng bia: “Khải Định cửu niên Xuân cát nhật (啟定九年春吉日, ngày tốt mùa Xuân năm thứ 9 [1924] đời vua Khải Định).” Năm 1924 là Giáp Tý. Như vậy, có thể đây là năm Ngài viên tịch, hoặc trước đó 1 năm. Thế thì, Ngài có thể làm Trú Trì Chùa Tường Vân từ năm 1921 (năm Ngài Thanh Thái Phước Chỉ viên tịch) cho đến 1923 hay 1924, trong vòng 2 đến 3 năm; và trong thời gian nầy Ngài giao lại chức Trú Trì lại cho pháp đệ Tịnh Hạnh.
- Tịnh Bang (淨邦): tên gọi khác của Tịnh Độ (淨土), chỉ cho một quốc độ trang nghiêm, thanh tịnh, nơi chư Phật thường cư trú. Như trong Phổ Năng Tung Thiền Sư Tịnh Độ Thi (普能嵩禪師淨土詩, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1215) quyển 1 có đoạn: “Tịnh Bang quốc độ diệu vô cùng, thất bảo trang thành Cực Lạc Cung, xứ xứ Ca Lăng tiền cổ vũ, song song Khổng Tước hậu lâm trung, liên khai Thượng Phẩm nan vi tỷ, hoa thổ u hương cánh bất đồng (淨邦國土妙無窮、七寶妝成極樂宮、處處迦陵前鼓舞、雙雙孔雀後林中、蓮開上品難爲比、花吐幽香更不同, Tịnh Bang quốc độ tuyệt vô cùng, bảy báu tạo thành Cực Lạc Cung, chốn chốn Ca Lăng chim cổ vũ, nơi nơi Khổng Tước hót trong rừng, sen bày Thượng Phẩm sao sánh được, hoa tỏa hương thơm chốn nào bằng).” Hay như trong Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (禪林疏語考證, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1252) quyển 1 cũng có câu: “Ta Bà uế độ tiềm tiêu Ngũ Trược chi căn, Cực Lạc Tịnh Bang tảo hạ Cửu Liên chi chủng(娑婆穢土潛消五濁之根、極樂淨邦早下九蓮之種, Ta Bà cõi nhớp dần tiêu Năm Trược căn nguyên, Cực Lạc Tịnh Bang sớm gieo Chín Sen hạt giống).”
- Liên Bang (蓮邦): gọi đủ là Liên Hoa chi bang (蓮華之邦), nghĩa là quốc độ, đất nước hoa sen. Đây là tên gọi khác của thế giới Cực Lạc (s: Sukhāvatī, 極樂), vì tất cả chúng sanh trên cõi Cực Lạc đều an trú trong hoa sen. Như trong Phổ Năng Tung Thiền Sư Tịnh Độ Thi (普能嵩禪師淨土詩, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1215) quyển 1 có bài thơ rằng: “Đài đầu tận thị Hoàng Kim điện, cử nhãn vô phi Bạch Ngọc đường, Thất Bảo Diêu Trì phu hạm đạm, Bát Công Đức Thủy hý uyên ương, chư quân chơn đáo Liên Bang quốc, tiện thỉnh tri âm hòa nhất chương, thanh thanh Phật hiệu hữu vô trúng, chỉ yếu hành nhân tín nguyện sung (抬頭盡是黃金殿、舉眼無非白玉堂、七寶瑤池敷菡萏、八功德水戲鴛鴦、諸君眞到蓮邦國、便請知音和一章、聲聲佛號有無中、只要行人信願充, ngẩng đầu lên ấy vàng ròng điện, mở mắt nào hay ngọc trắng đường, bảy báu Diêu Trì phô sen nở, Tám Công Đức Nước giỡn uyên ương, mọi người đã đến Liên Bang cõi, xin thỉnh tri âm hòa một chương, mỗi danh hiệu Phật có không thảy, chỉ cần hành giả tín nguyện tròn).” Hay như trong Liên Tu Khởi Tín Lục (蓮修起信錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1204) quyển 3 cũng có câu: “Ngũ lậu thân thành chướng cấu đa, vi nhi vi nữ khổ bôn ba, kim triêu phương thức trần trung huyễn, hàm tiếu Liên Bang thổ bích hà (五陋身成障垢多、爲兒爲女苦奔波、今朝方識塵中幻、含笑蓮邦吐碧荷, xấu xí thân hình tội chướng đa, làm thân người nữ khổ bôn ba, sáng nay mới biết trong trần huyễn, cười mỉm Liên Bang nở sen hoa).”
- Hòa Thượng Thích Tịnh Hạnh (釋淨行, 1889-1933): Hòa Thượng thế danh là Nguyễn Văn Cung, sinh tháng 6 năm Kỷ Sửu (1889) dưới triều Thành Thái nguyên niên, ở làng Dưỡng Mong Thượng, tổng Ngọc Anh, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Thân phụ Ngài là cụ ông Nguyễn Văn Toán, cụ bà là Tôn Nữ Phước Lý. Ngài sinh ra trong một gia đình mang cốt cách Nho giáo ở phía Nam kinh thành Huế, nơi đây phong cảnh làng quê hữu tình. Song thân đều một lòng tin kính Tam Bảo. Nhà Ngài có em ruột là Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết, Tăng Thống Giáo Hội. Ngài và em được song thân cho xuất gia ở tuổi thiếu niên tại Chùa Tường Vân, thờ Hòa Thượng Thanh Thái làm thầy. Năm đó, Ngài vừa tròn 16 tuổi. Tám năm sau (1910), Thiền Sư Vĩnh Gia mở Đại Giới Đàn ở Chùa Phước Lâm, Quảng Nam, Ngài được thọ Cụ Túc Giới lúc 21 tuổi và được Hòa Thượng Bổn Sư ban cho Pháp danh Trừng Hương, tự Thiền Duyệt, hiệu Tịnh Hạnh. Bốn năm sau (1914), lúc 25 tuổi, Ngài được Bổn sư phú Pháp với bài kệ sau: “Pháp truyền thanh giáo đạo tâm kiên, minh huấn tương thừa nhất niệm chuyên, nhất điểm chân như minh pháp tánh, thủy trừng châu hiện tại nhân tiền (法傳清敎道心堅、明訓相承一念專、一點眞如明法性、水澄珠現在人前, giáo pháp trao truyền đạo tâm bền, dặn dò kế thừa niệm tinh chuyên, một điểm chân như bày pháp tánh, nước trong châu báu hiện tỏ liền).” Sau đó, Ngài ra Chùa Thiên Hưng theo học lớp Phật pháp do Thiền Sư Huệ Pháp mở tại đây. Vào năm Khải Định thứ 5 (1920), Thiền Sư Phước Chỉ viên tịch, Ngài được tông môn công cử làm Tọa Chủ Tổ Đình Tường Vân. Ngài cũng thường tới Chùa Tây Thiên và Trúc Lâm để nghe Thiền Sư Phước Huệ ở Chùa Thập Tháp ra giảng. Năm 1932 (Nhâm Thân), Ngài được Hội An Nam Phật Học cung thỉnh vào Ban Chứng Minh Đại Đạo Sư cho Hội An Nam Phật Học tại Huế cùng với các Đại Lão Hòa Thượng Phước Huệ, Hòa Thượng Giác Tiên, Hòa Thượng Giác Nhiên và Hòa Thượng Tịnh Khiết. Do cuộc sống kham khổ, công việc Phật sự đa đoan, sức khỏe của Ngài giảm sút nhanh chóng và Ngài đã thu thần thị tịch vào lúc 4 giờ sáng ngày 24 tháng 8 năm Quý Dậu (13.10.1933), hưởng dương 45 tuổi và 23 Hạ lạp (Theo Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm: Lịch Sử Phật Giáo Xứ Huế. Nhà Xuất Bản Thành Phố Hồ Chí Minh, 2001, tr. 420-421). Tác phẩm Lịch Sử Phật Giáo Xứ Huế chỉ cho biết rằng: “Vào năm Khải Định thứ 5 (1920), Thiền Sư Phước Chỉ viên tịch, Ngài được tông môn công cử làm Tọa Chủ Tổ Đình Tường Vân”; chứ không đề cập đến sự kiện Hòa Thượng Tịnh Nhãn đã từng phó chúc truyền trao lại chức Trú Trì Chùa Tường Vân cho Hòa Thượng Tịnh Hạnh theo như bản phó Chúc Từ nêu trên có ghi: “Niệm sát đắc bổn tự pháp đệ Tịnh Hạnh, chánh tín xuất gia, kiên trì giới luật, triếp thử hợp phó kế vi bổn tự Trú Trì, tự thuật tiền tu quảng độ hậu học (念察得本寺法弟淨行、正信出家、堅持戒律、輙此合付繼爲本寺住持、嗣述前修廣度後學, xét thấy rằng pháp đệ Tịnh Hạnh ở bổn tự, là người chánh tín xuất gia, hành trì giới luật; nên phù hợp để giao phó kế thừa chức Trú Trì bổn tự, nối tiếp đức tu của chư vị đi trước và tiếp độ chúng học đồ đến sau).” Hơn nữa, thông tin “vào năm Khải Định thứ 5 (1920), Thiền Sư Phước Chỉ viên tịch” cũng không chính xác, vì theo bia ký của Ngài Phước Chỉ cho biết rằng: “Khải Định lục niên Tân Dậu chánh nguyệt Nguyên Đán, thích hội chư sơn Đại Đức đồng cầu tham yết, sư ngẫu vị viết: ‘Dư sơ dĩ ngũ nguyệt Ngọ thần sanh cố, kim nguyệt chi sơ ngũ nhật Ngọ thần thị ngô Tây quy kỳ dã’ (啟定六年辛酉正月元旦、適會諸山大德同求參謁、師偶謂曰、余初以五月午辰生故、今月之初五日午辰是吾西歸期也, vào ngày đầu năm tháng Giêng năm Tân Dậu, Khải Định thứ 6 [1921], gặp dịp chư tôn Đại Đức các tổ đình cùng đến xin thăm viếng, Ngài ngẫu nhiên bảo rằng: ‘Tôi ban đầu sanh vào giờ Ngọ tháng 5, cho nên vào giờ Ngọ ngày mồng 5 tháng nầy là lúc tôi về Tây vậy’).” Vì vậy, năm Ngài Phước Chỉ viên tịch là 1921, chứ không phải 1920.
- Đại đức (大德): (1) Công đức lớn, đại ân. Như trong Hệ Từ (繫辭) của Dịch Kinh (易經) có câu: “Thiên địa chi đại đức viết sinh (天地之大德曰生, đức lớn của trời đất là sinh).” Hay trong Thi Kinh, phần Tiểu Nhã (小雅), Cốc Phong (谷風) có câu: “Vong ngã đại đức, tư ngã tiểu oán (忘我大德、思我小怨, quên đức lớn của ta, nhớ oán hận nhỏ của ta).” (2) Phẩm đức cao thượng. Như trong chương Lập Chính (立政) của Quản Tử (管子) có câu: “Quân chi sở thận giả tứ, nhất viết đại đức bất chí nhân, bất khả dĩ thọ quốc bính (君之所愼者四、一曰大德不至仁、不可以授國柄, có bốn điều người quân tử phải thận trọng, một là phẩm đức cao thượng không bằng lòng nhân, không thể lấy vậy mà ban cho quyền lực quốc gia được).” Quan Đại Thần Duẫn Tri Chương (尹知章, 669-718) nhà Đường chú thích rằng: “Đức tuy đại nhi nhân bất chí, hoặc bao tàng họa tâm, cố bất khả thọ quốc bính (德雖大而仁不至、或包藏禍心、故不可授國柄, đức tuy lớn mà lòng nhân vẫn không thấu đáo, hoặc có thể ẩn tàng tâm gây hiểm họa, nên không thể ban cho quyền lực quốc gia được).” (3) Chỉ cho người có đức hạnh cao thượng. Như trong Lễ Ký (禮記), chương Trung Dung (中庸) có câu: “Cố đại đức tất đắc kỳ vị (故大德必得其位, cho nên người có đức hạnh cao thượng tất đạt được vị trí ấy).” Hay trong chương Ly Lâu (離婁) của Mạnh Tử (孟子) có đoạn: “Thiên hạ hữu đạo, tiểu đức dịch đại đức, tiểu hiền dịch đại hiền (天下有道、小德役大德、小賢役大賢, thiên hạ có đạo rằng người đức ít thì phục dịch người đức lớn, người hiền nhỏ thì phục vụ người hiền lớn).” (4) Đại Đức (s, p: bhadanta, 大德), âm dịch là Bà Đàn Đà (婆檀陀). Tại Ấn Độ, đây là tiếng kính xưng đối với Phật, Bồ Tát hay cao tăng; hoặc trong hàng ngũ chư vị Tỳ Kheo, bậc Trưởng Lão cũng được gọi là Đại Đức. Như trong Phật Thuyết Văn Thù Sư Lợi Tuần Hành Kinh (佛說文殊師利巡行經, Taishō Vol. 14, No. 470) quyển 57 có đoạn: “Nhĩ thời Văn Thù Sư Lợi đồng tử, ký kiến Trưởng Lão Xá Lợi Phất dĩ, nhi ngữ chi ngôn: ‘Đại Đức Xá Lợi Phất ! Nhữ nhập Thiền da ?’ (爾時文殊師利童子、既見長老舍利弗已、而語之言、大德舍利弗、汝入禪耶, lúc bấy giờ đồng tử Văn Thù Sư Lợi, đã thấy Trưởng Lão Xá Lợi Phất rồi, mà nói lời rằng: ‘Đại Đức Xá Lợi Phất ! Có phải người nhập vào Thiền định không ?’).” Trong các bộ Luật, khi đối trước đại chúng hiện tiền, chỉ cho chúng Tỳ Kheo, người ta thường dùng từ “Đại Đức Tăng (大德僧)”; với chúng Tỳ Kheo Ni là “Đại Tỷ Tăng (大姊僧)”. Tỷ dụ như trong Luật Uyển Sự Quy (律苑事規, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1113) có đoạn: “Đại Đức nhất tâm niệm ngã [mỗ giáp] kim thỉnh Đại Đức vi lạc phát Hòa Thượng, nguyện Đại Đức vi ngã lạc phát Hòa Thượng, ngã y Đại Đức cố đắc thế phát xuất gia, từ mẫn cố [tam thỉnh] (大德一心念、我[某甲]今請大德爲落髮和尚、願大德爲我落髮和尚、我依大德故得剃髮出家、慈愍故[三請], Đại Đức một lòng nghĩ nhớ, con […] nay cung thỉnh Đại Đức làm Hòa Thượng xuống tóc, ngưỡng mong Đại Đức làm Hòa Thượng xuống tóc của con, vì con nương Đại Đức nên được xuống tóc xuất gia, xin thương xót cho [ba lần thưa như vậy]).” Tại Trung Quốc cũng như Việt Nam, từ Đại Đức không dùng để tôn xưng chư Phật, Bồ Tát; mà chỉ dùng cho chư vị cao tăng mà thôi. Tuy nhiên, dưới thời Tùy Đường, những người tham gia dịch kinh đều được gọi là Đại Đức. Như trong Đại Đường Đại Từ Ân Tự Tam Tạng Pháp Sư Truyện (大唐大慈恩寺三藏法師傳, Taishō Vol. 50, No. 2053) quyển 6 cho biết rằng vào tháng 6 năm Trinh Quán (貞觀) thứ 19 (645), khi Huyền Trang (玄奘, 602-664) dịch kinh tại Chùa Hoằng Phước (弘福寺), có 12 vị Chứng Nghĩa Đại Đức (證義大德), 9 vị Chuyết Văn Đại Đức (綴文大德), 1 vị Tự Học Đại Đức (字學大德), 1 vị Chứng Phạn Ngữ Phạn Văn Đại Đức (證梵語梵文大德), v.v. Trinh Nguyên Tân Định Thích Giáo Mục Lục (貞元新定釋敎目錄, Taishō Vol. 55, No. 2157) quyển 16 cũng có nêu lên một số danh xưng khác như Lâm Đàn Đại Đức (臨壇大德), Bách Tòa Đại Đức (百座大德), Tam Học Đại Đức (三學大德), Giảng Luận Đại Đức (講論大德), Nghĩa Học Đại Đức (義學大德), Phiên Kinh Đại Đức (翻經大德), Dịch Ngữ Đại Đức (譯語大德), v.v. Ngoài ra, người thống lãnh Tăng Ni cũng gọi là Đại Đức. Như trong Tục Cao Tăng Truyện (續高僧傳, Taishō Vol. 50, No. 2060) quyển 11, Đường Kinh Sư Diên Hưng Tự Thích Cát Tạng Truyện (唐京師延興寺釋吉藏傳) có đề cập sự việc vào năm đầu (618) niên hiệu Võ Đức (武德) nhà Đường, vì số lượng tăng chúng quá đông, chức Thập Đại Đức (十大德) được thiết trí để quản lý tăng chúng. Ngoài những ý nghĩa nêu trên, hiện nay tại Việt Nam, danh xưng Đại Đức được dùng cho những vị mới thọ giới cũng như có Hạ lạp thấp, sau Thượng Tọa và Hòa Thượng.
- Nguyên bản của chữ nầy là “tôn (尊)”, nghĩa là “tôn trọng, kính trọng”, nếu đi với chữ “phái (派)” thì nghĩa là “dòng phái tôn kính”; như vậy sẽ không khớp nghĩa với mạch văn bên trên. Cho nên, chữ nầy phải sửa là “tông(宗)”, tức là “tông phái (宗派)”. Có thể đây là ghi nhầm do phát âm quen giống nhau; như chữ tông ở Huế thường đọc là tôn, tỷ dụ trường hợp Chùa Thuyền Tôn, nhưng bản Hán văn là Thuyền Tông Tự (禪宗寺, Chùa Thuyền [Thiền] Tông).
- Thiền lưu (禪流): những người tu tập Thiền Tông, hay nói chung là tu sĩ Phật Giáo. Nam Thạch Văn Tú Thiền Sư Ngữ Lục (南石文琇禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1422) quyển 4, bài Tặng Hổ Kheo Hỷ Tạng Chủ (贈虎丘喜藏主), có đoạn: “Tỳ Lô các hạ quỷ tiên thi, tứ hải Thiền lưu thiết yếu tri, khán tận nguyên lai duy nhất cú, nhược ngôn nhất cú tảo thành nghi (毗盧閣下鬼仙詩、四海禪流切要知、看盡元來惟一句、若言一句早成疑, Tỳ Lô dưới điện linh quỷ thơ, bốn biển Thiền tăng rõ biết cho, xét kỹ xưa nay một câu chỉ, một câu nếu bảo thành nghi ngờ).” Hay trong bài Thích Ca Văn Phật Tán (釋迦文佛贊) của Sở Thạch Phạn Kỳ Thiền Sư Ngữ Lục (楚石梵琦禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1420) quyển 13 có đoạn rằng: “Tam thế Như Lai cọng nhất tâm, nhất tâm bất cách khứ lai câm, Nhiên Đăng thọ ký duyên vô đắc, Bát Nhã đàm không thán thậm thâm, cùng tử nhiếp quy An Dưỡng sĩ, đạo tràng xướng xuất Niết Bàn âm, Vân Môn tối thị tri ân giả, giải hướng Thiền lưu thống xứ châm (三世如來共一心、一心不隔去來今、然燈授記緣無得、般若譚空嘆甚深、窮子攝歸安養士、道場唱出涅槃音、雲門最是知恩者、解向禪流痛處針, ba đời Như Lai cũng một tâm, một tâm chẳng cách xưa nay cùng, Nhiên Đăng thọ ký duyên chẳng có, luận bàn Bát Nhã thật thâm huyền, con khổ thảy về An Dưỡng kẻ, đạo tràng vang xướng Niết Bàn âm, Vân Môn quả đúng tri ân bạn, xoa dịu tu Thiền nhói kim đâm).” Hoặc như trong Kiềm Nam Hội Đăng Lục (黔南會燈錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 85, No. 1591) quyển 2 có câu: “Trân trọng Thiền lưu thân thiết cú, hưu đắc vô thằng tự thảo phược (珍重禪流親切句、休得無繩自討縛, trân trọng tu hành lời thân thiết, chớ để không dây trói buộc mình).”
- Tể quan (宰官): (1) Dưới thời nhà Chu (周, 1046 ttl.-256 ttl.), đây là tên của vị quan dưới quyền cai quản của Tể Tướng. (2) Chỉ chung cho các quan lại. Như trong bài thơ Đề Duy Cán Thượng Nhân Phòng (題惟幹上人房) của Cảnh Vi (耿湋, ?-?) nhà Đường có câu: “Thằng sàng mao ốc hạ, độc tọa vị nhàn an, khổ hạnh vô đồng tử, vong cơ tỵ tể quan (繩床茅屋下、獨坐味閑安、苦行無童子、忘機避宰官, bên giường mái tranh dưới, một mình hưởng an nhàn, khổ hạnh không thị giả, cơ duyên tránh tể quan).” (3) Đặc biệt chỉ cho quan Huyện. Trong Pháp Hoa Kinh Thọ Thủ (法華經授手, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 32, No. 623) có giải thích rằng: “Tể quan giả vị Tam Thai, dĩ công năng tể chính, ư chủ Quận Huyện, diệc xưng tể quan; tể tức chủ nghĩa, quan nãi công năng nghĩa dã (宰官者謂三台、以功能宰政、於主郡縣、亦稱宰官、宰卽主義、官乃功能義也, tể quan được gọi là Tam Thai, lấy công năng để coi sức chính sự, làm chủ các Quận, Huyện, cũng gọi là tể quan; tể nghĩa là làm chủ, quan nghĩa là có công năng).” Trong Từ Thọ Hoài Thâm Thiền Sư Quảng Lục (慈受懷深禪師廣錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1451) quyển 3 có đoạn rằng: “Cánh năng ư tố quan chi xứ, chủng chủng phương tiện, ngoại hộ pháp môn, hiện tể quan thân, hành Bồ Tát hạnh (更能於做官之處、種種方便、外護法門、現宰官身、行菩薩行, lại có thể ở nơi chỗ làm quan, với các loại phương tiện, pháp môn ngoại hộ, hiện thân quan lại, thực hành hạnh Bồ Tát).”
- Phật nhật (佛日): từ dùng để ví dụ đức Phật là mặt trời. Giống như mặt trời thường chiếu sáng phá tan đi sự tăm tối, đức Phật là người chiếu phá mê vọng của chúng sanh và làm cho họ được chứng ngộ. Như trong Tông Kính Lục (宗鏡錄, Taishō Vol. 48, No. 2016) quyển 43 có đoạn: “Giáo truyền thử độ, Phật nhật trầm nhi tái lãng, huệ vân tán nhi trùng sanh, toại đắc tâm cảnh dung thông (敎傳此土、佛日沉而再朗、慧雲散而重生、遂得心境融通, giáo truyền cõi nầy, mặt trời Phật chìm mà sáng lại, vầng mây tuệ tan mà lại hiện ra, bèn đạt tâm và cảnh dung thông).” Hay trong Kim Cang Kinh Khoa Nghi (金剛經科儀, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1494) cũng có đoạn: “Cái văn Hán triều cảm mộng, Bạch Mã Tây lai, Ma Đằng chương Hán hóa chi sơ thời, La Thập cảm Tần tông chi đại điển, minh minh Phật nhật, chiếu phá hôn cù, lãng lãng huệ đăng, chí kim bất diệt (蓋聞漢朝感夢、白馬西來、摩騰彰漢化之初時、羅什感秦宗之代典、明明佛日、照破昏衢、朗朗慧燈、至今不滅, từng nghe Hán triều ứng mộng, bạch mã từ Tây [Ấn Độ] đến, Ca Diếp Ma Đằng làm rực rỡ buổi đầu nhà Hán, Cưu Ma La Thập làm cảm động nhà Tần dịch kinh điển, sáng trong mặt trời Phật, chiếu phá nẻo tối tăm; rực rỡ ngọn đèn tuệ, mãi đến nay không diệt).”
- Tổ ấn (祖印): Pháp ấn của Tổ sư, tức là những ấn tượng đáng nhớ, hành trạng, giáo thuyết cũng như Tông phong của chư vị Tổ sư lúc sinh tiền lưu lại cho hậu thế noi theo. Vì thế, trong Thiền môn thường dùng câu Tổ ấn trùng quang (祖印重光, pháp ấn của chư Tổ vẫn sáng tỏ mãi). Câu nầy thường được treo ở Nhà Tổ. Như trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) quyển 4 có câu: “Phục nguyện, Luật phong vĩnh chấn, Tổ ấn trùng quang, giới hương phân phức ư Cửu Châu, pháp vũ triêm nhu ư Thất Chúng (伏願、律風永振、祖印重光、戒香芬馥於九州、法雨沾濡於七眾, cúi mong Luật phong mãi chấn chỉnh, Tổ ấn luôn sáng ngời, hương giới thơm phức khắp Chín Châu, mưa pháp rưới nhuần nơi Bảy Chúng).” Hay trong Vô Chuẩn Hòa Thượng Tấu Đối Ngữ Lục (無準和尚奏對語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 70, No. 1383) có đoạn: “Phục nguyện, Phật chủng bất đoạn, thế thế kiến quang minh tràng, Tổ ấn thân truyền, nhân nhân khai vô tận tạng (伏願、佛種不斷、世世建光明幢、祖印親傳、人人開無盡藏, cúi mong giống Phật chẳng dứt, đời đời dựng cờ sáng tỏ, Tổ ấn truyền thừa, người người mở kho vô tận).”
- Pháp luân (s: dharmacakra, p: dhammacakka, 法輪): nghĩa là bánh xe pháp, hay giáo pháp do đức Phật thuyết ra, cho nên đức Phật thuyết pháp thường được gọi là chuyển pháp luân (chuyển bánh xe pháp). Như trong Phật Tổ Thống Kỷ (佛祖統紀, Taishō Vol. 49, No. 2035) quyển 3 có đoạn: “Kim Phật thỉ chung cụ chuyển Ngũ Vị pháp luân, chuyển thử pháp độ nhân tha tâm linh đắc ngộ, tư chuyển Pháp luân chi nghĩa dã (今佛始終具轉五味法輪、轉此法度人他心令得悟、斯轉法輪之義也, nay đức Phật trước sau chuyển bánh xe Pháp đủ năm vị, chuyển pháp nầy độ người và tâm người khác khiến được độ, đó là nghĩa của chuyển bánh xe Pháp vậy).” Hay trong Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 25 có câu: “Ngộ Phật pháp luân, nhất thiết phiền não độc giai diệt (遇佛法輪、一切煩惱毒皆滅, gặp được bánh xe Phật pháp, hết thảy độc phiền não đều tiêu diệt).” Tại Chánh Điện của Đại Phật Tự (大佛寺) ở Trương Dịch (張掖), tỉnh Cam Túc (甘肅) có câu đối: “Phật nhật tăng huy vạn thiện đồng quy đăng bỉ ngạn, Pháp luân thường chuyển thập phương chiêm ngưỡng chứng Bồ Đề (佛日增輝萬善同歸登彼岸, 法輪常轉十方瞻仰證菩提, trời Phật sáng rực muôn thiện cùng về lên bờ giác, xe Pháp luôn chuyển mười phương chiêm ngưỡng chứng Bồ Đề).”
- Tông phong (宗風): phong nghi của một tông phái, còn gọi là gia phong (家風) hay Thiền phong (禪風); như Vân Môn Tông Phong (雲門宗風), Đức Sơn Tông Phong (德山宗風), Lâm Tế Tông Phong (臨濟宗風), Tào Động Tông Phong (曹洞宗風). Như trong Tông Phong Đạo Độc Thiền Sư Ngữ Lục (宗寶道獨禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1443) quyển 4 có bài Trường Khánh Chàng Chung Bảng Kệ (長慶挂鐘板偈) rằng: “Hữu cú vô cú cổ kim truyền, thọ đảo đằng khô kỉ bách niên, thử nhật tông phong trùng chỉnh đốn, tương tùy lai dã đại gia khan (有句無句古今傳、樹倒藤枯幾百年、此日宗風重整頓、相隨來也大家看, có lời không lời xưa nay truyền, cây ngã dây khô mấy trăm năm, ngày nay tông phong được chỉnh đốn, cùng theo đến đó ngắm cửa nhà).” Trong Tục Đăng Chánh Thống Mục Lục (續燈正統目錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 84, No. 1582) cũng có câu: “Dư hựu văn, Đạt Ma tự Tây phù hải, chí Kim Lăng, xướng kỳ giáo ư Trung Quốc, kim biệt công nãi phục tùng Trung Quốc, chấn tông phong ư hải ngoại, khởi khôi kỳ chi chí (余又聞、達磨自西浮海、至金陵、倡其敎於中國、今別公乃復從中國、振宗風於海外、豈恢奇之至, ta lại nghe rằng Đạt Ma từ Ấn Độ vượt biển đến Kim Lăng, truyền đạo của ông ở Trung Quốc, nay chính ông lại từ Trung Quốc lại mở rộng tông phong nơi nước ngoài, quả thật quá kỳ lạ thay !).” Hay trong Tăng Tập Tục Truyền Đăng Lục (增集續傳燈錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 83, No. 1574) quyển 4, phần Hàng Châu Linh Ẩn Trúc Tuyền Pháp Lâm Thiền Sư (杭州靈隱竹泉法林禪師), lại có đoạn: “Hậu Chí Nguyên tứ niên thiên Linh Ẩn, tông phong đại chấn, Thuận Đế tích dĩ Kim Lan pháp y (後至元四年遷靈隱、宗風大振、順帝錫以金襴法衣, sau vào năm thứ 4 [1338] niên hiệu Chí Nguyên, Thiền Sư dời đến Linh Ẩn, phát triển tông phong, vua Thuận Đế ban tặng cho pháp y Kim Lan).”
Lạc Bang (樂邦): hay Lạc Quốc (樂國), Cực Lạc Quốc (極樂國), chỉ cho thế giới an lạc của đức Phật A Di Đà (s: Amitābha, 阿彌陀). Như trong Lạc Bang Di Cảo (樂邦遺稿, Taishō Vol. 47, No. 1969B) do Sa Môn Tông Hiểu (宗曉, 1151-1214) nhà Nam Tống biên soạn, có đề cập rằng: “Lương do Di Đà ngộ ngã tâm chi bảo sát, ngã tâm cụ Di Đà chi Lạc Bang, tuy viễn nhi cận bất ly nhất niệm, tuy cận nhi viễn quá thập vạn ức sát (良由彌陀悟我心之寶剎、我心具彌陀之樂邦、雖遠而近不離一念、雖近而遠過十萬億剎, đều do Di Đà làm cho ngộ cõi báu trong tâm ta, tâm ta có đủ cõi Lạc Bang của Di Đà, tuy xa mà gần, chẳng rời một niệm, tuy gần mà xa, quá mười vạn ức cõi nước).” Hay như trong Khuyến Tu Tịnh Độ Thi (勸修淨土詩) của Thật Hiền Tỉnh Am (實賢省庵, 1686-1734) nhà Thanh, tổ sư thứ 11 của Tịnh Độ Tông Trung Quốc, có câu: “Khổ hải vô biên hà nhật xuất, Lạc Bang hữu lộ kỉ thời hoàn (苦海無邊何日出、樂邦有路幾時還, biển khổ vô biên ngày nào thoát, Lạc Bang có lối lúc nào về).” Hay trong bài Phổ Khuyến Niệm Phật Tụng (普勸念佛頌) của Liên Tu Tất Độc (蓮修必讀, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1214) có câu: “Lạc Bang từ phụ vọng Ta Bà, thùy thủ ân cần thập kiếp đa, tất dục thử thân siêu khổ hải, tùng kim tốc tốc niệm Di Đà (樂邦慈父望娑婆、垂手殷勤十劫多、必欲此身超苦海、從今速速念彌陀, Lạc Bang từ phụ hướng Ta Bà, vươn tay ân cần mười kiếp xa, nếu muốn thân nầy qua biển khổ, từ nay mau chóng niệm Di Đà).”